ESU HOLDING VIỆT NAM | Email: esuvn.info@gmail.com|    Hotline: +84 936 393 363 

Giới thiệu về J-VEEC

Địa chỉ:
Văn phòng Trung tâm tại Nhật Bản 

​Địa chỉ: T1-10-41 Hanmachi, Thành phố Minoh, Tỉnh Osaka, 562-0044 

​ĐT: (+81) 080-66151-3454 / E-mail:jveec.info@gmail.com.

Văn phòng Trung tâm tại Việt Nam 

​Địa chỉ: Tầng 4, Tòa nhà Rose Garden, 170 Ngọc Khánh, Hà Nội  

​ĐT: (+84) 0903 550 520 / E-mail:jveec.info@gmail.com.

Phải chỉ định một địa chỉ để nhúng bản đồ vào trang

Nội dung công việc

1. Các vấn đề liên quan đến liên lạc và hợp tác giữa các thành viên với các tổ chức và ngành nghề liên quan trong việc liên lạc và tham vấn lẫn nhau.

2. Các yêu cầu và kiến ​​nghị liên quan đến việc cải thiện chính sách thương mại.

3. Tiến hành nghiên cứu và khảo sát về tình hình kinh tế và thương mại giữa Nhật Bản và Việt Nam, cung cấp thông tin và tài liệu cho các thành viên, đồng thời ủy thác và tiếp nhận các nghiên cứu về các vấn đề liên quan.

4. Trao đổi, làm trung gian, giới thiệu nhân sự và công nghệ để thúc đẩy thương mại giữa Nhật Bản và Việt Nam.

5. Giới thiệu, quảng bá và sắp xếp các sản phẩm xuất nhập khẩu.

6. Tổ chức các nhóm nghiên cứu, diễn thuyết và thảo luận bàn tròn.

7. Tổ chức và hướng dẫn các doanh nghiệp tham gia thị trường (đầu tư, liên doanh, hợp tác).

8. Xuất bản bản tin.

9. Các công việc khác cần thiết để đạt được mục tiêu của Hiệp hội.

Hoạt động

 1.  Xuất bản bản tin hàng tháng (thường kỳ) và cung cấp thông tin, tài liệu về các vấn đề sau:

  • ​(a) Thông tin mới nhất về công nghiệp, kinh tế, lao động, v.v. của Việt Nam.
  • ​(b) Phối hợp với các đối tác trong nước nghiên cứu, tìm hiểu tình hình kinh tế, thương mại của Việt Nam, thúc đẩy hợp tác vốn và kỹ thuật.
  • ​(c) Phân tích các xu hướng kinh tế của Việt Nam và tư vấn về hiểu biết và các giải pháp cần thiết, v.v.

2. Thu thập thông tin về Bộ luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Ngoại thương, Luật Thuế và các luật, quy định khác của Việt Nam, đồng thời cung cấp nội dung chính làm tài liệu tham khảo.

3. Tổ chức các nhóm nghiên cứu về trao đổi kinh tế với Việt Nam, các buổi thảo luận bàn tròn với các tổ chức liên quan và các sự kiện cần thiết khác.

4. Hướng dẫn và hợp tác trong các hoạt động quan hệ công chúng (PR) cho Việt Nam.

5. Dịch các tài liệu và văn bản quan trọng.

6. Thúc đẩy các vấn đề khác cần thiết để đạt được mục tiêu của chúng tôi, chẳng hạn như thúc đẩy giao tiếp và hợp tác giữa các thành viên.

Lịch sử

1991-1996: Sự trỗi dậy của quan hệ Nhật Bản - Việt Nam

Vào những năm 1990, quá trình tự do hóa kinh tế của Việt Nam bắt đầu thực sự diễn ra, và mối quan tâm của Nhật Bản đối với thương mại và đầu tư tăng vọt. Tuy nhiên, cả hai nước đều chưa hiểu rõ hoàn cảnh hay thông lệ kinh doanh của nhau. Điều này dẫn đến mong muốn về một tổ chức đóng vai trò trung gian hòa giải giữa hai nước, và Trung tâm Giao lưu Kinh tế Nhật Bản - Việt Nam đã ra đời.

*Tổ chức hội thảo mời đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Viện Pháp luật Quốc gia Việt Nam và Ủy ban Kế hoạch Quốc gia Việt Nam. Khai trương văn phòng tại Hà Nội. Xuất bản tin trao đổi, giới thiệu tình hình Việt Nam và các quy định kinh tế của Việt Nam.

<Các sự kiện chính> Thủ tướng Murayama thăm Việt Nam (tháng 8 năm 1994), bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (tháng 7 năm 1995), Việt Nam gia nhập ASEAN (tháng 7 năm 1995), Vietnam Airlines khai trương đường bay thẳng Osaka - TP.HCM (tháng 11 năm 1994), Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII (tháng 6 năm 1996): Hướng tới mục tiêu trở thành nước công nghiệp trong vòng 20 năm.

1997-2000: Giai đoạn phát triển hợp tác kinh tế Nhật Bản-Việt Nam. 

Hoạt động của Trung tâm được mở rộng hơn nữa, dựa trên nhận thức rằng việc hỗ trợ nghiên cứu Nhật Bản tại Việt Nam là rất quan trọng đối với sự phát triển hợp tác kinh tế giữa hai nước. Các hoạt động cũng mở rộng ra ngoài lĩnh vực kinh tế, bao gồm cả văn hóa và thể thao.

*Tặng sách tiếng Nhật (1997, 2000). Khảo sát các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam và đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc cải thiện môi trường đầu tư. Tổ chức nhóm nghiên cứu pháp luật, thuế và giao lưu với phía Việt Nam. Lên kế hoạch và thực hiện trận bóng đá giao hữu Nhật Bản - Việt Nam.

<Các sự kiện chính> Thủ tướng Hashimoto thăm Việt Nam (1/1997), khai trương Tổng Lãnh sự quán tại Osaka (3/1997), khủng hoảng tiền tệ châu Á (6/1997), chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Clinton (11/2000)

2001-2008: Giai đoạn Quốc tế hóa Kinh tế

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007, nền kinh tế bước vào giai đoạn quốc tế hóa, đứng trước những thuận lợi cũng như khó khăn đáng kể do những biến động của kinh tế toàn cầu. Các yêu cầu từ phía Việt Nam ngày càng cụ thể và chi tiết hơn.

Thành lập các văn phòng đại diện mới tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Tổ chức các triển lãm sản phẩm Việt Nam. Đáp ứng nhu cầu giao lưu kinh tế từ các địa phương như Cần Thơ. Hỗ trợ đào tạo quản lý chuyên ngành. Nhận bằng khen của Bộ Ngoại giao Việt Nam.

<Sự kiện chính> Chính thức gia nhập WTO (tháng 1 năm 2007), Thủ tướng Khải, Thủ tướng Dũng và Chủ tịch nước Triết thăm Nhật Bản (2003-2008), miễn thị thực cho khách du lịch Nhật Bản (tháng 1 năm 2004), dịch SARS được thanh toán (năm 2004), Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX (tháng 4 năm 2001): mục tiêu "tăng gấp đôi GDP trong 10 năm"